WEBSITE chính thức của Cục Đường thủy nội địa Việt Nam
 
  MƯỜI NĂM ĐỔI MỚI Chủ nhật, Ngày 1 tháng 8 năm 2010
 
Khoa học đường sông - 50 năm nhìn lại ;

Khoa học đường sông - 50 năm nhìn lại

    50 năm về trước, ngày 11/8/1956, Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa ban hành Quyết định số 70/CP thành lập Cục Vận tải thủy Việt Nam. Từ đó ngày 11/8 hàng năm trở thành ngày truyền thống của CBCNV ngành vận tải thủy nội địa. Già nửa thế kỷ, trải qua các thời kỳ khôi phục kinh tế ở miền Bắc, chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và đổi mới kinh tế .Vận tải thủy nội địa luôn luôn hoàn thành suất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng là ngành chủ lực của Bộ GTVT. Với những thành tích đã đạt được trong suốt 50 năm qua  CBCNV Ngành ĐTNĐ đã được đảng và nhà nước tặng nhiều huân huy chương cao quý, trong đó cao quý nhất là huân chương  Hồ Chí Minh. Có được thành tích đáng kể như trên là có một phần lớn đóng góp của những người làm công tác khoa học đường sông.

    Ngay từ ngày đầu thành lập, xác định rõ tầm quan trọng của khoa học công nghệ trong công tác tổ chức, xây dựng và phát triển của Ngành vận tải thủy Việt Nam ,vị Cục trưởng đầu tiên Lý Văn Sâm đã trực tiếp chỉ đạo đội ngũ khoa học Ngành  tiến hành nghiên cứu 03 đề tài lớn: “Chuyển đổi nhiên liệu chạy tàu bằng than kíp lê sang than cám”, “ Xây dựng quy trình trung đại tu vỏ máy tàu thủy”   “Quy hoạch tổng thể phát triển GTVT của hệ thống sông Hồng” do chính ông làm chủ nhiệm đề tài. Từ đó đến nay công tác khoa học công nghệ ngành Vận tải thủy  đã phát triển với một bước dài vượt bậc đóng góp rất lớn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc nói chung và phát triển Ngành  nói riêng.

    Trong công cuộc bảo vệ tổ quốc, ngoài việc vận tải phục vụ cho xây dựng chủ nghĩa ở miền Bắc, hàng vạn tấn lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm, đạn dược vượt biển vào Nam trên đoàn tàu không số hoặc phương tiện thô sơ qua kênh đào nhà Lê  phục vụ cho tuyền tuyến lớn . Từ ngày 5 tháng 8 năm 1964 đế quốc Mỹ tạo sự kiện Vịnh bắc Bộ, vận tải thủy trở thành mục tiêu bắn phá của không quân và hải quân Mỹ. Các khu vực trọng điểm như Hải Phòng,Sông Gianh, Bến Thủy, Hàm Rồng, kênh đào nhà Lê cũng như các hải cảng và cửa sông khu vực phía Bắc đã bị phong tỏa bằng thủy lôi. Với khẩu hiệu “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” toàn Ngành đường sông đã dũng cảm đảm bảo giao thông thông suốt, đưa hàng tới đích. Để góp phần đánh thắng giặc Mỹ xâm lược hàng ngàn đề tài, sáng kiến cải tiến được áp dụng trong đó đáng kể nhất là thiết bị phá bom T5 là một công trình nghiên cứu khoa học tập thể  đã được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.

    Trong qúa trình xây dựng và trưởng thành những người làm khoa học đường sông  góp phần quan trọng xây dựng một cơ cấu tổ chức khoa học phù hợp với từng thời kỳ phát triển, mạnh dạn xây dựng các đề án đổi mới mô hình tổ chức và bộ máy điều hành cho phù hợp đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao phó. Ngày 5/5 năm 1965 Cục đã tham mưu cho Bộ GTVT ra QĐ 1046/QĐ Giải thể  Cục Vận tải thủy để thành lập Cục Vận tải đường biển và Cục Vận tải đường sông. Do nhu cầu của công tác quản lý theo từng thời kỳ đã bao lần thay đổi: thời kỳ chiến tranh theo mô hình Cục, thời kỳ khôi phục kinh tế  chuyển sang mô hình Liên hiệp, mô hình Tổng công ty. Năm 1993 trong xu thế đẩy mạnh công cuộc đổi mới của kinh tế đất nước theo nền kinh tế thị trường với mô hình quản lý mới bằng thể chế và pháp chế, Cục Đường sông Việt Nam  tái được thành lập (ngày 30/01/1993). Tiếp đó hàng loạt các đề án  về cơ cấu vận hành mới được các nhà khoa học đường sông đề suất và đã được Bộ GTVT chấp thuận :Tách chức năng kinh doanh ra khỏi chức năng quản lý nhà nước, thành lập 4 Tổng công ty (Tổng công ty ĐSMB, ĐSMN, VT&XD ĐTNĐ, Tổng công ty XDCT thủy); Nghiên cứu xây dựng mô hình cảng vụ đường thủy nội địa và lần lượt  thành lập các Cảng vụ đường thủy khu vực I, khu vực II , khu vực III và khu vực IV;  Xã hội hóa công tác vận tải thủy nội địa tạo điều kiện thuận lợi cho các hình thức vận tải tư nhân phát triển điển hình như các HTX vận tải Mùa Xuân, Rạch Gầm, Sông Diêm...; Xây dựng đề án chuyển đổi mô hình của các đoạn QLĐS , các công ty vận tải sang mô hình cổ phần hóa ( năm 2005 đã cổ phần hóa thí điểm được 5 đoạn QLĐS và hầu hết các công ty vận tải đã và đang chuyển sang mô hình cổ phần hóa). Các công ty cổ phần hóa đang hoạt động  có hiệu quả tốt ; Mạnh dạn đa dạng hóa loại hình sản xuất và tăng cường liên doanh liên kết với nước ngoài điển hình thành công nhất là mô hình liên doanh của Tổng Công ty ĐSMN.

    Xây dựng cơ sở phát lý khoa học - Trong thời kỳ chiến tranh hay thời kỳ khôi phục kinh tế người làm khoa học đường sông đã tham mưu cho lãnh đạo trong công tác điều hành sản xuất bằng các băn bản pháp quy (các Kế hoạch, Lệnh sản xuất, Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị,  Thông tư... ) đầy tính khoa học. Đặc biệt kể từ năm 1993,  khi chuyển từ nền kinh tế quản lý theo kế hoạch sang quản lý bằng quản lý theo pháp chế và thể chế  (từ 1993 đến 1998) chúng ta đã xây dựng được 53 văn bản các loại mà đỉnh cao là Nghị định 40/Cp ngày 5 tháng 7 năm 1996 của chính phủ về trật tự an toàn giao thông ĐTNĐ. Nghị định đã đi sâu vào các vùng  nông thôn, xã ven sông, tạo ra sự chuyển biến về ý thức pháp luật của người dân và hiểu biết về trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý chuyên ngành là Cục ĐSVN .Từ năm 2000 trở lại đây do nhu cầu của hội nhập quốc tế ngày càng cao, việc tham gia WTO được đặt lên hàng đầu để đưa Việt Nam trở lại với sân chơi lớn đổi hỏi phải có một bộ luật về giao thông vận tải thủy nội địa khoa học, chặt chẽ, đầy đủ và thông thoáng. Những nhà soạn thảo Luật đường thủy nội địa lại tập trung cao độ để hoàn thành Luật GTĐT nội địa trình Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2005. Đây là loại văn bản quy phạm pháp luật khoa học nhất, được đánh giá hoàn thiện nhất.       

    Mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật và Quản lý cơ sở hạ tầng đường thủy nội địa. Do  sông ngòi Việt Nam  không đồng đều, có độ dốc lớn, quanh co nhiều gềnh thác bãi bồi, chênh lệnh mực nước giữa mùa cạn và mùa lũ cao, lưu tốc dòng chảy lớn  đòi hỏi phải đầu tư lớn về trí lực và vật lực cho công tác mở luồng mới, duy tu bảo dưỡng , nạo vét và chỉnh trị dòng chảy. Trong những năm qua hàng trăm đề tài khoa học đã  được áp dụng như đề án phân định cấp quản lý kênh sông giữa trung ương và địa phương, đề án xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật đường sông, đề án chỉnh trị luồng bằng kè, đề án xây dựng các tuyến mẫu trạm mẫu, đề án Hai tuyến đường thủy phía Nam, đề án Hải Phòng- Sơn La, các đề án áp dụng công nghệ mới trong chế tạo bóng thủy tinh cho đèn hiệu có ánh sáng kéo dài để tăng hiệu quả tầm nhìn ban đêm, đề tài sử dụng đèn báo hiệu LED thay bóng sợi tóc, đề tài ứng dụng Composite,vật liệu nhẹ, bọt xốp vào chế tạo phao tiêu, báo hiệu... đã làm bộ mặt cơ sở hạ tầng ngày được khang trang hơn.

    Khoa học đường sông góp phần lớn trong công cuộc đổi mới và phát triển đội tàu vận tải, cải thiện bộ mặt cảng bến -  Những ngày đầu phương tiện vận tải thủy nội địa thô sơ vỏ gỗ hoặc sắt, chủ yếu dựa vào sức gió (thuyền buồm) hoặc máy hơi nước chạy bằng than kíp lê có trọng tải nhỏ. Ngay từ khi mới thành lập với đề tài “Chuyển đổi nhiên liệu chạy tàu bằng than kíp lê sang than cám” rồi hàng trăm đề tài nghiên cứu về ứng dụng nguyên liệu, vật liệu mới trong chế tạo đóng mới  đội tàu sông được nghiên cứu áp dụng. Trong đó phải kể đến các đề  tài thực sự là cuộc cách mạng làm thay đổi bộ mặt đội tàu sông đó là  “ứng dụng vật liệu xi măng, lưới thép trong công nghệ đóng vỏ tàu “, “ Xử dụng vật liệu Composite trong công nghệ đóng vỏ tàu khách và các tàu kiểm tra đường thủy nội địa” ,  “Đóng mới các đoàn sà lan có mới nước 1,6m trở lên thay cho các đoàn sà lan có mớn nước dưới 1m  để các đoàn sà lan  vươn ra hoạt động trên vùng ven biển” , “Đóng mới tàu đẩy sà làn vận chuyển container có ca bin nâng hạ bằng thủy lực” , “Đề tài chế tạo tàu đẩy ven biển có khớp nối thủy lực kiểu Acturba (Nhật)” và “chế tạo chân vịt trong ống đạo lưu xoay chiều”...Trong quá trình khai thác, các hình thức lắp ghép đoàn tàu cố định kéo đẩy 1sà lan, 2 sà lan ,3 sà lan hay 4 sà lan cũ loại 150 tấn lần lượt bộ lộ những khuyết điểm . Để giảm sức cản của dòng nước, tăng tốc độ và sức chở của các đoàn phương tiện, hàng loạt các phương pháp lắp ghép các đòan sà lan mới được áp dụng . Ngoài ra các nhà khoa học thủy nội địa đã nghiên cứu đưa ra các loại phương tiện mới đó là sà lan tự hành chạy sông biền có trọng tải 800 đến 1000 tấn và xu hướng hình thành các đoàn tàu đẩy có trọng tải 1000 đến 2000 tấn.

    Nhiều năm bộ mặt cảng bến thủy nội địa đã dần dần được cải thiện, nhiều đề tài khoa học vào công tác xếp dỡ hàng hóa tại các cảng bến, trong đó nổi bật là các sáng kiến thiết kế chế tạo máng rót Clinke di động, gàu ngoạm 2,5 tấn bốc dỡ thạch cao, cải tạo cần cẩu KC 4361 với bộ li hợp mới, cải tiến công cụ mạng hàng phù hợp với đặc tính các loại hàng : sắt thép vụn, tre nứa, luồng, gỗ...., thiết kế chế tạo thành công dây chuyền bốc xếp hàng bao ở cảng Ninh Phúc.... Trong tương lai trong không khí hội nhập chắc chắn bộ mặt cảng bến thủy nội địa sẽ đước đổi mới khang trang hơn.  

    Luôn luôn đi trước, lấy cơ sở lý luận khoa học làm nền tảng phát triển bền vững -

    Ngay từ ngày đầu mới thành lập với đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển GTVT của hệ thống sông Hồng” do Cục trưởng Lý Văn Sâm là chủ nhiệm chúng ta đã thấy các nhà khoa học đường sông suốt 50 năm xây dựng và trưởng thành luôn luôn đi trước và lấy cơ sở khoa học kỹ thuật làn nền tảng . ứng với mỗi thời kỳ kế hoạch khác nhau  trên  cơ sở lý luận khoa học xây dựng  quy hoạch tổng thể  ngắn hạn (5 năm), dài hạn (20năm)  đảm bảo cho ngành phát triển bền vững.  Năm 2005 chúng ta đã hoàn thành 5 đề án quy hoạch tổng thể : “ Quy hoạch tổng thể phát triển giao thông ĐTNNĐ đồng bằng bắc Bộ đến năm 2020” , “Quy hoạch tổng thể đồng bằng nam Bộ đến năm 2020”, “Quy họach đội tàu vận tải thủy nội địa khu vực đồng bằng bắc Bộ đến năm 2020”, “Quy hoạch và phát triển đội tàu sông khu vực phía Nam đến năm 2020” “Quy hoạch và phát triển hệ thống cảng thủy nội địa đến năm 2020”. Song song với việc hoàn thành 5 quy hoạch tổng thể còn tập trung hoàn thành 3 đề tài cấp Bộ  “Cơ sở lý luận để phát triển vận tải thủy nội địa “ do Phó Giáo sư, Tiến sỹ Trần Đắc Sửu làm chủ nhiệm , “ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật giao thông vận tải thủy nội địa” do Thạc sỹ Phạm Minh Nghĩa chủ nhiệm, đề tài “ Xây dựng định mức KTKT đường sông” do phó Cục Trưởng Sỹ Văn Khánh làm chủ nhiệm, đề tài “Đánh giá tác động của vận tải thủy đến môi trường và biện pháp xử lý” do Phó Cục trưởng Lê Hữu Khang làm chủ nhiệm . Để tăng khả năng cạnh tranh và hội nhập, nhóm cán bộ khoa học do Kỹ sư Thành Ngọc Thực đang gấp rút hoàn thành đề  án “Triển khai hiệp định hàng rào kĩ thuật trong thương mại”. Ngoài ra trên 30 đề tài cấp ngành , đơn vị và hàng trăm sáng kiến cải tiến kỹ thuật đang được nghiên cứu và áp dụng. Song hành với việc nghiên cứu các đề án khoa học, việc nghiên cứu việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và phát triển ngành cũng ngày được nâng cao, hệ thống máy tính đã được nối mạng , trang Website là thông điệp của Ngành đã hòa mạng quốc tế. Tất cả cán bộ quản lý đều sử dụng thành thạo máy vi tính, đề án ứng dụng Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 tại Cục ĐSVN đã được Bộ GTVT phê duyệt đồng ý cho triển khai sẽ hỗ trợ đắc lực cho công tác cải cách hành chính tại Cục ĐSVN.

    50 năm ngày thành lập với đội ngũ cán bộ không ngừng phát triển - Ngày đầu thành lập chúng ta chỉ có 5 cán bộ có trình độ đại học. Nhưng 3 năm sau 1 trường đại học chuyên ngành vận tải thủy lớn đẫ ra đời (Trường đại học Giao thông đường thủy, tiền thân của trường đại học Hàng hải ngày nay) . Đến nay chúng ta đã có 2 trường đại học lớn chuyên ngành, 2 trường trung học , hàng năm bổ xung cho Ngành hàng trăm cán bộ có trình độ trung cấp,đại học và trên đại học.Với độ ngũ cán bộ làm công tác khoa học hùng hậu và ngày càng đông sẽ góp phần không nhỏ cho công cuộc phát triển .

    50 năm là một thời gian không dài, các thế hệ cán bộ làm công tác khoa học đường sông đáng tự hào về những thành tích đã đạt được. mặc dù nhiệm vụ trong thời gian tới của họ là rất nặng nề đó là:  

  • Hoàn thiện cơ sở lý luận phát triển ngành.

  • Rà soát lại các quy hoạch ngắn hạn, dài hạn, trên cơ sở lý luận khoa học xây dựng quy hoạch ngành cho các thời kỳ tiếp theo.

  • Tập trung nghiên cứu áp dụng khoa học vào đổi mới cơ sở hạ tầng đường thủy nội địa.

  • Tập trung nghiên cứu đổi mới mô hình tổ chức  cho phù hợp với tình hình nhiện vụ mới.

  • Tập trung hoàn thiện cơ sở pháp lý cho vận tải thủy nội địa mà cụ thể là hoàn thiện Luật GTĐTNĐ và các văn bản dưới luật.

  • Tập trung nghiên cứu áp dụng công nghệ tiến tiến, các vật liệu với, mô hình mới, công cụ mới để đổi mới đội tàu thủy nội địa và hệ thống cảng thủy nội địa.

  • Đẩy mạnh công nghệ thông tin, tăng cường cải cách hành chính, xây dựng một bộ máy quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế.

Với những thành tích đã đạt dược và đội ngũ cán bộ khoa học hùng hậu, đầy nhiệt huyết,  chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào thành quả trong tương lai ./.

 

 

Các bài viết khác


BẢN QUYỀN THUỘC CỤC ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA VIỆT NAM
80 - Trần Hưng Đạo - Hoàn Kiếm - Hà Nội - Email: misviwa@hn.vnn.vn