|
Khoa học đường sông - 50 năm nhìn lại
;
Khoa học đường sông
- 50 năm nhìn lại
50 năm
về trước, ngày 11/8/1956, Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa ban hành
Quyết định số 70/CP thành lập Cục Vận tải thủy Việt Nam. Từ đó ngày 11/8 hàng
năm trở thành ngày truyền thống của CBCNV ngành vận tải thủy nội địa. Già nửa
thế kỷ, trải qua các thời kỳ khôi phục kinh tế ở miền Bắc, chống chiến tranh phá
hoại của giặc Mỹ, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và đổi mới kinh tế
.Vận tải thủy nội địa luôn luôn hoàn thành suất sắc nhiệm vụ được giao, xứng
đáng là ngành chủ lực của Bộ GTVT. Với những thành tích đã đạt được trong suốt
50 năm qua CBCNV Ngành ĐTNĐ đã được đảng và nhà nước tặng nhiều huân huy
chương cao quý, trong đó cao quý nhất là huân chương Hồ Chí Minh. Có được
thành tích đáng kể như trên là có một phần lớn đóng góp của những người làm công
tác khoa học đường sông.
Ngay từ ngày đầu thành lập, xác định rõ tầm quan trọng của khoa học công nghệ
trong công tác tổ chức, xây dựng và phát triển của Ngành vận tải thủy Việt Nam
,vị Cục trưởng đầu tiên Lý Văn Sâm đã trực tiếp chỉ đạo đội ngũ khoa học Ngành
tiến hành nghiên cứu 03 đề tài lớn: “Chuyển
đổi nhiên liệu chạy tàu bằng than kíp lê sang than cám”, “ Xây dựng quy trình
trung đại tu vỏ máy tàu thủy”
và
“Quy hoạch
tổng thể phát triển GTVT của hệ thống sông Hồng”
do chính ông làm chủ nhiệm đề tài. Từ đó đến nay công tác khoa học công nghệ
ngành Vận tải thủy đã phát triển với một bước dài vượt bậc đóng góp rất
lớn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc nói chung và phát triển Ngành nói
riêng.
Trong công cuộc bảo vệ tổ quốc, ngoài việc vận tải phục vụ cho xây dựng chủ
nghĩa ở miền Bắc, hàng vạn tấn lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm, đạn dược
vượt biển vào Nam trên đoàn tàu không số hoặc phương tiện thô sơ qua kênh đào
nhà Lê phục vụ cho tuyền tuyến lớn . Từ ngày 5 tháng 8 năm 1964 đế quốc Mỹ
tạo sự kiện Vịnh bắc Bộ, vận tải thủy trở thành mục tiêu bắn phá của không quân
và hải quân Mỹ. Các khu vực trọng điểm như Hải Phòng,Sông Gianh, Bến Thủy, Hàm
Rồng, kênh đào nhà Lê cũng như các hải cảng và cửa sông khu vực phía Bắc đã bị
phong tỏa bằng thủy lôi. Với khẩu hiệu
“tất
cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”
toàn Ngành đường sông đã dũng cảm đảm bảo giao thông thông suốt, đưa hàng tới
đích. Để góp phần đánh thắng giặc Mỹ xâm lược hàng ngàn đề tài, sáng kiến cải
tiến được áp dụng trong đó đáng kể nhất là thiết bị phá bom T5 là một công trình
nghiên cứu khoa học tập thể đã được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.
Trong qúa trình xây dựng và trưởng thành những người làm khoa học đường sông
góp phần quan trọng xây dựng một cơ cấu tổ chức khoa học phù hợp với từng thời
kỳ phát triển, mạnh dạn xây dựng các đề án đổi mới mô hình tổ chức và bộ máy
điều hành cho phù hợp đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao phó. Ngày
5/5 năm 1965 Cục đã tham mưu cho Bộ GTVT ra QĐ 1046/QĐ Giải thể Cục Vận
tải thủy để thành lập Cục Vận tải đường biển và Cục Vận tải đường sông. Do nhu
cầu của công tác quản lý theo từng thời kỳ đã bao lần thay đổi: thời kỳ chiến
tranh theo mô hình Cục, thời kỳ khôi phục kinh tế chuyển sang mô hình Liên
hiệp, mô hình Tổng công ty. Năm 1993 trong xu thế đẩy mạnh công cuộc đổi mới của
kinh tế đất nước theo nền kinh tế thị trường với mô hình quản lý mới bằng thể
chế và pháp chế, Cục Đường sông Việt Nam tái được thành lập (ngày
30/01/1993). Tiếp đó hàng loạt các đề án về cơ cấu vận hành mới được các
nhà khoa học đường sông đề suất và đã được Bộ GTVT chấp thuận :Tách chức năng
kinh doanh ra khỏi chức năng quản lý nhà nước, thành lập 4 Tổng công ty (Tổng
công ty ĐSMB, ĐSMN, VT&XD ĐTNĐ, Tổng công ty XDCT thủy); Nghiên cứu xây dựng mô
hình cảng vụ đường thủy nội địa và lần lượt thành lập các Cảng vụ đường
thủy khu vực I, khu vực II , khu vực III và khu vực IV; Xã hội hóa công
tác vận tải thủy nội địa tạo điều kiện thuận lợi cho các hình thức vận tải tư
nhân phát triển điển hình như các HTX vận tải Mùa Xuân, Rạch Gầm, Sông Diêm...;
Xây dựng đề án chuyển đổi mô hình của các đoạn QLĐS , các công ty vận tải sang
mô hình cổ phần hóa ( năm 2005 đã cổ phần hóa thí điểm được 5 đoạn QLĐS và hầu
hết các công ty vận tải đã và đang chuyển sang mô hình cổ phần hóa). Các công ty
cổ phần hóa đang hoạt động có hiệu quả tốt ; Mạnh dạn đa dạng hóa loại
hình sản xuất và tăng cường liên doanh liên kết với nước ngoài điển hình thành
công nhất là mô hình liên doanh của Tổng Công ty ĐSMN.
Xây dựng cơ sở phát lý khoa học - Trong thời kỳ chiến tranh hay thời kỳ khôi
phục kinh tế người làm khoa học đường sông đã tham mưu cho lãnh đạo trong công
tác điều hành sản xuất bằng các băn bản pháp quy (các Kế hoạch, Lệnh sản xuất,
Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư... ) đầy tính khoa học. Đặc biệt
kể từ năm 1993, khi chuyển từ nền kinh tế quản lý theo kế hoạch sang quản
lý bằng quản lý theo pháp chế và thể chế (từ 1993 đến 1998) chúng ta đã xây
dựng được 53 văn bản các loại mà đỉnh cao là Nghị định 40/Cp ngày 5 tháng 7 năm
1996 của chính phủ về trật tự an toàn giao thông ĐTNĐ. Nghị định đã đi sâu vào
các vùng nông thôn, xã ven sông, tạo ra sự chuyển biến về ý thức pháp luật
của người dân và hiểu biết về trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý
chuyên ngành là Cục ĐSVN .Từ năm 2000 trở lại đây do nhu cầu của hội nhập quốc
tế ngày càng cao, việc tham gia WTO được đặt lên hàng đầu để đưa Việt Nam trở
lại với sân chơi lớn đổi hỏi phải có một bộ luật về giao thông vận tải thủy nội
địa khoa học, chặt chẽ, đầy đủ và thông thoáng. Những nhà soạn thảo Luật đường
thủy nội địa lại tập trung cao độ để hoàn thành Luật GTĐT nội địa trình Quốc hội
thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2005. Đây là loại văn bản quy
phạm pháp luật khoa học nhất, được đánh giá hoàn thiện nhất.
Mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật và Quản lý cơ sở hạ tầng đường thủy nội địa.
Do sông ngòi Việt Nam không đồng đều, có độ dốc lớn, quanh co nhiều gềnh
thác bãi bồi, chênh lệnh mực nước giữa mùa cạn và mùa lũ cao, lưu tốc dòng chảy
lớn đòi hỏi phải đầu tư lớn về trí lực và vật lực cho công tác mở luồng
mới, duy tu bảo dưỡng , nạo vét và chỉnh trị dòng chảy. Trong những năm qua hàng
trăm đề tài khoa học đã được áp dụng như đề án phân định cấp quản lý kênh
sông giữa trung ương và địa phương, đề án xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật
đường sông, đề án chỉnh trị luồng bằng kè, đề án xây dựng các tuyến mẫu trạm
mẫu, đề án Hai tuyến đường thủy phía Nam, đề án Hải Phòng- Sơn La, các đề án áp
dụng công nghệ mới trong chế tạo bóng thủy tinh cho đèn hiệu có ánh sáng kéo dài
để tăng hiệu quả tầm nhìn ban đêm, đề tài sử dụng đèn báo hiệu LED thay bóng sợi
tóc, đề tài ứng dụng Composite,vật liệu nhẹ, bọt xốp vào chế tạo phao tiêu, báo
hiệu... đã làm bộ mặt cơ sở hạ tầng ngày được khang trang hơn.
Khoa học đường sông góp phần lớn trong công cuộc đổi mới và phát triển đội tàu
vận tải, cải thiện bộ mặt cảng bến - Những ngày đầu phương tiện vận tải
thủy nội địa thô sơ vỏ gỗ hoặc sắt, chủ yếu dựa vào sức gió (thuyền buồm) hoặc
máy hơi nước chạy bằng than kíp lê có trọng tải nhỏ. Ngay từ khi mới thành lập
với đề tài “Chuyển
đổi nhiên liệu chạy tàu bằng than kíp lê sang than cám”
rồi hàng trăm đề
tài nghiên cứu về ứng dụng nguyên liệu, vật liệu mới trong chế tạo đóng mới
đội tàu sông được nghiên cứu áp dụng. Trong đó phải kể đến các đề tài thực sự
là cuộc cách mạng làm thay đổi bộ mặt đội tàu sông đó là “ứng dụng vật
liệu xi măng, lưới thép trong công nghệ đóng vỏ tàu “, “ Xử dụng vật liệu
Composite trong công nghệ đóng vỏ tàu khách và các tàu kiểm tra đường thủy nội
địa” , “Đóng mới các đoàn sà lan có mới nước 1,6m trở lên thay cho các
đoàn sà lan có mớn nước dưới 1m để các đoàn sà lan vươn ra hoạt động
trên vùng ven biển” , “Đóng mới tàu đẩy sà làn vận chuyển container có ca bin
nâng hạ bằng thủy lực” , “Đề tài chế tạo tàu đẩy ven biển có khớp nối thủy lực
kiểu Acturba (Nhật)” và “chế tạo chân vịt trong ống đạo lưu xoay chiều”...Trong
quá trình khai thác, các hình thức lắp ghép đoàn tàu cố định kéo đẩy 1sà lan, 2
sà lan ,3 sà lan hay 4 sà lan cũ loại 150 tấn lần lượt bộ lộ những khuyết điểm .
Để giảm sức cản của dòng nước, tăng tốc độ và sức chở của các đoàn phương tiện,
hàng loạt các phương pháp lắp ghép các đòan sà lan mới được áp dụng . Ngoài ra
các nhà khoa học thủy nội địa đã nghiên cứu đưa ra các loại phương tiện mới đó
là sà lan tự hành chạy sông biền có trọng tải 800 đến 1000 tấn và xu hướng hình
thành các đoàn tàu đẩy có trọng tải 1000 đến 2000 tấn.
Nhiều năm bộ mặt cảng bến thủy nội địa đã dần dần được cải thiện, nhiều đề tài
khoa học vào công tác xếp dỡ hàng hóa tại các cảng bến, trong đó nổi bật là các
sáng kiến thiết kế chế tạo máng rót Clinke di động, gàu ngoạm 2,5 tấn bốc dỡ
thạch cao, cải tạo cần cẩu KC 4361 với bộ li hợp mới, cải tiến công cụ mạng hàng
phù hợp với đặc tính các loại hàng : sắt thép vụn, tre nứa, luồng, gỗ...., thiết
kế chế tạo thành công dây chuyền bốc xếp hàng bao ở cảng Ninh Phúc.... Trong
tương lai trong không khí hội nhập chắc chắn bộ mặt cảng bến thủy nội địa sẽ
đước đổi mới khang trang hơn.
Luôn luôn đi trước, lấy cơ sở lý luận khoa học làm nền tảng phát triển bền vững
-
Ngay từ ngày đầu mới thành lập với đề án “Quy hoạch
tổng thể phát triển GTVT của hệ thống sông Hồng”
do Cục trưởng Lý Văn Sâm là chủ nhiệm chúng ta đã thấy các nhà khoa học đường
sông suốt 50 năm xây dựng và trưởng thành luôn luôn đi trước và lấy cơ sở khoa
học kỹ thuật làn nền tảng . ứng với mỗi thời kỳ kế hoạch khác nhau trên
cơ sở lý luận khoa học xây dựng quy hoạch tổng thể ngắn hạn (5
năm), dài hạn (20năm) đảm bảo cho ngành phát triển bền vững. Năm
2005 chúng ta đã hoàn thành 5 đề án quy hoạch tổng thể : “ Quy hoạch tổng thể
phát triển giao thông ĐTNNĐ đồng bằng bắc Bộ đến năm 2020” , “Quy hoạch tổng thể
đồng bằng nam Bộ đến năm 2020”, “Quy họach đội tàu vận tải thủy nội địa khu vực
đồng bằng bắc Bộ đến năm 2020”, “Quy hoạch và phát triển đội tàu sông khu vực
phía Nam đến năm 2020” “Quy hoạch và phát triển hệ thống cảng thủy nội địa đến
năm 2020”. Song song với việc hoàn thành 5 quy hoạch tổng thể còn tập trung hoàn
thành 3 đề tài cấp Bộ “Cơ sở lý luận để phát triển vận tải thủy nội địa “ do
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Trần Đắc Sửu làm chủ nhiệm , “ứng dụng hệ thống thông tin
địa lý (GIS) trong công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật giao thông vận tải thủy nội
địa” do Thạc sỹ Phạm Minh Nghĩa chủ nhiệm, đề tài “ Xây dựng định mức KTKT đường
sông” do phó Cục Trưởng Sỹ Văn Khánh làm chủ nhiệm, đề tài “Đánh giá tác động
của vận tải thủy đến môi trường và biện pháp xử lý” do Phó Cục trưởng Lê Hữu
Khang làm chủ nhiệm . Để tăng khả năng cạnh tranh và hội nhập, nhóm cán bộ khoa
học do Kỹ sư Thành Ngọc Thực đang gấp rút hoàn thành đề án “Triển khai hiệp
định hàng rào kĩ thuật trong thương mại”. Ngoài ra trên 30 đề tài cấp ngành ,
đơn vị và hàng trăm sáng kiến cải tiến kỹ thuật đang được nghiên cứu và áp dụng.
Song hành với việc nghiên cứu các đề án khoa học, việc nghiên cứu việc ứng dụng
công nghệ thông tin vào quản lý và phát triển ngành cũng ngày được nâng cao, hệ
thống máy tính đã được nối mạng , trang Website là thông điệp của Ngành đã hòa
mạng quốc tế. Tất cả cán bộ quản lý đều sử dụng thành thạo máy vi tính, đề án
ứng dụng Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 tại Cục ĐSVN đã được Bộ GTVT phê
duyệt đồng ý cho triển khai sẽ hỗ trợ đắc lực cho công tác cải cách hành chính
tại Cục ĐSVN.
50 năm ngày thành lập với đội ngũ cán bộ không ngừng phát triển - Ngày đầu thành
lập chúng ta chỉ có 5 cán bộ có trình độ đại học. Nhưng 3 năm sau 1 trường đại
học chuyên ngành vận tải thủy lớn đẫ ra đời (Trường đại học Giao thông đường
thủy, tiền thân của trường đại học Hàng hải ngày nay) . Đến nay chúng ta đã có 2
trường đại học lớn chuyên ngành, 2 trường trung học , hàng năm bổ xung cho Ngành
hàng trăm cán bộ có trình độ trung cấp,đại học và trên đại học.Với độ ngũ cán bộ
làm công tác khoa học hùng hậu và ngày càng đông sẽ góp phần không nhỏ cho công
cuộc phát triển .
50 năm là một thời gian không dài, các thế hệ cán bộ làm công tác khoa học đường
sông đáng tự hào về những thành tích đã đạt được. mặc dù nhiệm vụ trong thời
gian tới của họ là rất nặng nề đó là:
-
Hoàn thiện cơ
sở lý luận phát triển ngành.
-
Rà soát lại
các quy hoạch ngắn hạn, dài hạn, trên cơ sở lý luận khoa học xây dựng quy
hoạch ngành cho các thời kỳ tiếp theo.
-
Tập trung
nghiên cứu áp dụng khoa học vào đổi mới cơ sở hạ tầng đường thủy nội địa.
-
Tập trung
nghiên cứu đổi mới mô hình tổ chức cho phù hợp với tình hình nhiện vụ
mới.
-
Tập trung hoàn
thiện cơ sở pháp lý cho vận tải thủy nội địa mà cụ thể là hoàn thiện Luật
GTĐTNĐ và các văn bản dưới luật.
-
Tập trung
nghiên cứu áp dụng công nghệ tiến tiến, các vật liệu với, mô hình mới, công
cụ mới để đổi mới đội tàu thủy nội địa và hệ thống cảng thủy nội địa.
-
Đẩy mạnh công
nghệ thông tin, tăng cường cải cách hành chính, xây dựng một bộ máy quản lý
theo tiêu chuẩn quốc tế.
Với những thành
tích đã đạt dược và đội ngũ cán bộ khoa học hùng hậu, đầy nhiệt huyết,
chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào thành quả trong tương lai ./.
|